Truyền Hình An Viên – Nơi Phật tử theo dõi Phật sự mỗi ngày


// < ![CDATA[
// < ![CDATA[
// < ![CDATA[
// < ![CDATA[
// < ![CDATA[
// < ![CDATA[
// < ![CDATA[
//

// < ![CDATA[
// < ![CDATA[
// < ![CDATA[
// < ![CDATA[
// < ![CDATA[
// < ![CDATA[
// < ![CDATA[
//

Truyền Hình An Viên

Truyền Hình An Viên, nguồn lợi ích của đồng bào.

Truyền hình An Viên, niềm tự hào của người Việt

Nói đến AVG – Truyền hình An Viên không thể không nhắc đến kênh An Viên – kênh truyền hình có nội dung các chương trình đậm chất văn hóa Phương Đông, chứa đựng nhiều tư tưởng Phật giáo. An Viên cũng được trao tặng kỷ lục là kênh truyền hình sản xuất và phát sóng chương trình Phật giáo nhiều nhất Việt Nam.

An Viên là kênh truyền hình được AVG – Truyền hình An Viên dày công xây dựng và gửi gắm nhiều tâm huyết. Với cách thể hiện dung dị, dễ hiểu, nhẹ nhàng và sống động, kênh An Viên đem đến cho người xem các chương trình văn hóa, giáo dục đậm chất nhân văn, mang âm hưởng của triết lý Phật giáo.

 

Kênh phật giáo - truyền hình an viên
 Các chương trình đặc sắc trên kênh An Viên

 

Để làm mới và tạo sự khác biệt so với các kênh truyền hình hướng đến các chủ đề như thể thao, giải trí, phim ảnh… của các đài truyền hình khác, kênh An Viên xây dựng những chương trình có nội dung về văn hóa Phương Đông, về sức khỏe, về giáo dục… dựa vào các triết lý sâu sắc của đạo Phật. Có thể kể đến một số chương trình nổi bật trên kênh An Viên như: Xưa…Nay, Sống yêu thương, Khỏe để An Viên, Chuyện giản dị, Camera giấu kín, Chùa Việt Nam…Những chương trình trên kênh An Viên có tính giáo dục cao, hướng con người sống thiện, làm lành tránh ác, đề cao tình yêu thương con người.

“Sống yêu thương”
là chương trình khai thác những câu chuyện thật trong đời sống thuộc các phạm trù đạo đức, lối sống, văn hóa ứng xử, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, ngoài xã hội… và được lý giải, đánh giá dưới góc nhìn của chính các nhân vật, người chứng kiến, góc nhìn của các nhà tâm lý, chuyên gia, nhà nghiên cứu, giáo dục, luật pháp, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng …
Những ai yêu thích Yoga thì chương trình “Yoga – Sự trải nghiệm” sẽ là nơi để khán giả tìm hiểu, luyện tập các bài tập Yoga tại nhà mà không cần phải đến các trung tâm.
Các hoạt động văn hóa từ thiện, những sự kiện thời sự đáng chú ý, hoạt động Phật giáo ở Việt Nam và trên thế giới được đưa tin trong trong chương trình “Ngày An Viên”, phát sóng hàng ngày.
Thể loại chương trình truyền hình về đối thoại cũng được Truyền hình An Viên khai thác và xây dựng trong một phiên bản mới trong chương trình Xưa…Nay. Xưa…Nay là chương trình được xây dựng như một buổi tọa đàm trao đổi về văn hóa, ứng xử giữa các khách mời là những chuyên gia về vấn đề mà chương trình thảo luận. Mỗi chủ đề được đưa ra sẽ được nhìn qua hai lăng kính từ những truyền thống đạo đức xưa và nhịp sống hối hả của hiện tại.
Nhận xét về kênh An Viên, Thượng tọa Thích Thanh Đạt (Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội) – cho biết: “Nội dung truyền tải trên kênh An Viên gắn liền với các giá trị về lịch sử, văn hóa, Phật giáo, môi trường, giáo dục… nên chứa đựng nhiều kiến thức có ích cho người xem, có tính giáo dục cao, mang nhiều ý nghĩa sâu sắc. Đây là kênh truyền hình bổ ích và mọi khán giả ở mọi lứa tuổi đều nên xem”.
Với mong muốn trở thành một “góc yên tĩnh” hàng ngày cho tâm hồn khán giả được tĩnh tại, thư giãn, đón nhận những giá trị thuần khiết của cuộc sống, kênh An Viên thực sự là lựa chọn hữu ích với tất cả mọi người. Đặc biệt, đây là kênh truyền hình không có quảng cáo, mang đến sự liền mạch trong dòng chảy về các chương trình trên kênh An Viên của AVG – Truyền hình An Viên.


Tuổi trẻ và sự giác ngộ…

Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên,

Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên,

Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên,

(PGVN) Pháp thoại này, Thế tôn muốn đề cập đến hai phương diện đối lập với sự lợi hại trong những hiện tượng mới phát sinh. Người con Phật phải nhận thức được hai mặt của vấn đề khi nó còn trong trứng nước

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana. Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến, sau khi chào hỏi, ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn:
Tôn giả Gotama có tự cho mình đã chứng Vô thượng chính đẳng chính giác không?
Thưa đại vương, nếu ai có thể nói là mình đã chứng vô thượng chính đẳng chính giác, thời người ấy phải chính là Ta. Thưa Đại vương, Ta đã chứng Vô thượng chính đẳng chính giác.
Thưa Tôn giả Gotama, có những vị Sa môn, Bà la môn là giáo chủ, hội chủ, sư trưởng có tiếng tăm, có danh vọng, được quần chúng tôn sùng như các ngài Purana Kassapa, Nigantha Nàtaputta….Khi con hỏi các vị ấy “Có tự xem là đã chứng vô thượng chính đẳng chính giác không?”, thì họ trả lời là không tự xem đã chứng Vô thượng chính đẳng chính giác. Vậy tại sao tôn giả Gotama trẻ tuổi, sinh sau đẻ muộn và chỉ mới xuất gia lại tự cho mình như vậy?
Thưa Đại vương, có bốn loại tuổi trẻ không nên khinh thường, không nên miệt thị vì họ là trẻ. Thế nào là bốn? Đó là vị vương tử trẻ tuổi, một con rắn trẻ tuổi, một ngọn lửa trẻ tuổi và một vị Tỷ kheo trẻ tuổi.
Thưa Đại vương, bốn loại trẻ tuổi này không nên khinh thường, không nên miệt thị vì chúng là trẻ.
(ĐTKVN, Tương Ưng Bộ I, chương 3, phẩm Thứ nhất, phần Tuổi trẻ, VNCPHVN ấn hành 1993, tr.159)

    Phật tử “nhí” đảnh lễ Đại lão HT.Thích Phổ Tuệ
LỜI BÀN: 
Đứng về phương diện chín chắn và kinh nghiệm trong cuộc sống xưa nay xã hội vẫn dành cho người già một địa vị trang trọng. Tuy nhiên, về phương diện tài năng, nhất là những tài năng xuất chúng thì bất luận tuổi tác, bởi thiên tài vốn thiên bẫm, là phước báo riêng của mỗi người. Do vậy, chẳng có ai ngỡ ngàng trước chuyện tuổi tác của thiên tài cả.
Vì thế, với tuệ giác của Thế tôn, Ngài thấu rõ bản chất của bốn nhóm đối tượng đặc biệt, rất lợi hại, rất nguy hiểm dù cho còn trẻ tuổi, sự nghiệp mới manh nha. Một vị vương tử trẻ tuổi nhưng đã tiềm ẩn bên trong một đại đế quyền uy, đứng trên muôn dân, cai trị toàn thể thiên hạ. Một con rắn nhỏ nhưng là rắn độc thì phải tránh xa nến không muốn mất mạng. Một ngọn lửa nhỏ là khởi đầu của trận đại hỏa hoạn, thiêu rụi tất cả. Vị Tỷ kheo trẻ tuổi nhưng với thiện căn nhiều đời, giới hạnh viên mãn đã ẩn tàng bên trong một bậc Đạo sư, một đấng giác ngộ.
Pháp thoại này, Thế tôn muốn đề cập đến hai phương diện đối lập với sự lợi hại trong những hiện tượng mới phát sinh. Người con Phật phải nhận thức được hai mặt của vấn đề khi nó còn trong trứng nước. Nếu nó là nguyên nhân sâu xa của sự xấu ác, bất thiện thì phải nên chế ngự và diệt trừ, dù nó chỉ mới hình thành trong tư tưởng. Ngược lại, nếu nó là cội nguồn của thiện pháp thì phải tin tưởng, phát huy để đạt đến đỉnh cao.
Khuynh hướng của xã hội hiện nay là trẻ hóa, nhất là trẻ hóa đội ngũ lãnh đạo là một chuyển biến tích cực, năng động, kích thích sự phấn đấu vươn lên để tự thể hiện mình của giới trẻ. Giáo hội cũng đang có những động thái trẻ hóa hàng ngũ lãnh đạo nhưng xem ra vẫn còn quá dè dặt. Giữa hai thế hệ già và trẻ bao giời cũng có những lợi thế và những hạn chế riêng. Tuy vậy, phải tin tưởng vào sức trẻ, dìu dắt và nâng đỡ đồng thời giao phó trách nhiệm cho lớp trẻ chính là thực hiện di huấn của Thế tôn. Thế nên, chúng ta không nên xem thường hay nghi ngờ thế hệ trẻ, một khi họ đã đầy đủ những tố chất của sự trưởng thành.Thích Quảng Tánh

Bí quyết "bán nghèo" để trở nên giàu có…*

Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên,

Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên,

Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên,

(PGVN) Nghe xong, năm trăm vị trời ấy tâm được xa lìa trần cấu, chứng nhãn thanh tịnh, đồng bay về thiên cung. Bấy giờ những người trần có mặt tại đó thảy đều tỉnh ngộ, ông Trưởng giả bấy giờ mới sáng mắt và mới nhận được cái giá trị của con người

Thuở xưa, ở nước Ấn Ðộ, có một trưởng giả giàu nứt đố đổ vách nhưng hết sức keo kiệt, thường cắt cổ, lột da thiên hạ với cách cho vay nặng lời. Tánh ông lại còn hung tợn, tàn ác nữa. Thật đúng với câu “Vi phú bất nhân” ông không có chút từ tâm.

Mỗi khi có những kẻ mang công thiếu nợ không lo trả nổi theo lời hứa hẹn, thì ông sai lũ gia nhân đánh đập một cách tàn nhẫn, thậm chí ông còn đối đãi với kẻ ăn, người ở trong nhà một cách hết sức tệ bạc, xem họ như loài thú vật không hơn không kém. Trong nhà có một bà lão bộc, làm công việc nhà quần quật suốt ngày không có một lúc hở tay.

Nhưng không phải chỉ vậy mà thôi đâu, mỗi khi có sơ sót, hay lỡ tay làm hư hỏng việc gì, thì ông chủ miệng chửi, tay đánh không mảy may thương xót. Áo quần không đủ để che kín tấm thân gầy, cháo cơm không đủ làm no dạ dày lép xẹp. Lại còn tuổi già sức yếu mà phải chịu bao nổi nhọc nhằn, vất vả, vì sức chịu đựng của con người có hạn, cho nên bà thường bị đau yếu luôn. Có lẽ vì đau khổ quá, cực nhọc quá, nên nhiều khi bỗng không bà rơi nước mắt, rồi bà khóc thực sự, khóc cho thân thế bị dày vò, khóc cho tình đời đen bạc, trọng phú khinh bần.

Có một hôm nọ, nhân lúc mang bình ra mé sông múc nước, được ít phút rảnh rang khỏi cặp mắt gầm gừ của ông chủ, bà yên tâm tạm ngồi nghỉ chân dưới cội cây bàng. Trong đầu óc bà lúc ấy lại thoáng hiện ra những sự hành hạ, đập đánh, chửi rủa, tàn nhẫn vô lương tâm của ông chủ. Trong một phút suy ngẫm về giá trị đời sống, bà bỗng rùng mình. Tội nghiệp bấy giờ bà chán sự sống lắm, một ý nghĩ đen tối thoáng hiện trong óc bà, bà muốn quyên sinh.

Bà nghĩ bà phải chết đi, chết để giải quyết tất cả mọi nổi đau khổ loài người đen bạc đã cố ý đày đọa bà. Bà nghĩ những nỗi nọ niềm kia, nghĩ đủ thứ, nước mắt hai bên khóe tự nhiên ràn rụa tràn ra, lăn dài xuống hai má hóp. Bà để mặc cho hai dòng lệ tự do tuôn chảy không buồn chậm lau. Bà vẫn cố muốn khóc cho thật nhiều, khóc cho hết nưóc mắt để rồi bà chết, phải rũ hết nợ đời, chớ sống mà thân xác cũng như linh hồn bị dày vò đày ải quá sức, thì thà chết đi còn hơn.

Bà khóc mùi mẫn cho đến đỗi Tôn giả Ca Chiên Diên đi đến tận bên, bà cũng không hay biết gì. Mãi đến lúc Tôn giả cất tiếng hỏi bà mới giật mình.

– Sao thế? Sao bà khóc lóc quá như thế? Ai ăn hiếp bà, ai hành hạ đánh đập bà?

Bà lao vẫn còn nghẹn ngào, không nói được ra lời để đáp lại những câu hỏi của Tôn giả. Bà chỉ giương đôi mắt mờ lệ nhìn Ngài.

– Tội nghiệp quá, xem bà nghèo khổ, gian truân quá, nhưng tình cảnh nhà bà ra sao? tại sao bà lại ngồi đây một mình mà khóc, bà cho tôi biết đi, bà nói hết nỗi khổ của bà cho tôi nghe đi, may ra tôi có phương chước gì để giúp ích phần nào cho bà.

– Bạch Ngài, Ngài xem tôi từng này tuổi mà vẫn phải làm tôi mọi cho người ta, công việc làm việc vất vả suốt ngày thâu đêm, lại còn bị chủ nhà ác nghiệt, bó buộc, đánh đập hành hạ khổ sở. Thân thể già yếu, nay đau mai mạnh, thế hằng ngày cơm chẳng đủ no, áo không đủ ấm, thì làm sao mà sống cho nổi!

Bà vừa nói vừa khóc trông thảm thiết lắm.

– Tội nghiệp bà nghèo từng này tuổi mà còn phải làm tôi tớ cho người để bị nhiều điều cơ cực, đau đớn, sao bà không bán quách cái nghèo đi, để đeo nó theo làm gì cho thêm khổ sở?

– Trời ơi! Sao Ngài bảo lạ thế? Ai thèm mua nghèo mà hòng bán?

– Bà ạ! Tôi nói thật đấy, nghèo có thể bán được như thường tôi thấy bà khổ sở, tôi khuyên bà bán ngay nó đi, tôi thương bà, tôi bảo thật đấy. Tôi nói gạt bà có ích lợi gì cho tôi đâu?

Nghe giọng nói quả quyết và trông gương mặt hiền từ, thành thật của Tôn giả, bà già hết sức ngạc nhiên, nhìn Tôn giả trân trân, hồi lâu mới thốt được lời:

– Nếu Ngài có phương kế gì bán được cái nghèo, mong Ngài thương xót chỉ cho, tôi xin ngậm vành kết cỏ, cảm đội ơn đức suốt đời, không lúc nào quên được.

– Ðược, tôi xin hứa chắc với bà và nếu bà thật tình muốn bán, thì tôi bảo thế này, bà phải làm đúng y như vậy mới có kết quả tốt đẹp được. Bây giờ bà hãy xuống sông tắm cho thật sạch sẽ, thân thể bẩn thỉu quá có thể sinh ra nhiều bệnh tật, lại ai cũng chán mà chẳng dám đến gần.

Bà già vâng lời tôn giả xuống sông tắm rửa sạch sẽ xong xuôi, bà liền đến bên bạch rằng:

– Bây giờ Ngài dạy tôi cách nào để bán?

– Bây giờ bà phải bố thí. Vì Phật đã dạy, pháp bố thí là để cho người vượt khỏi lòng tham lam, mà tham lam là cái nhân bần cùng khổ sở. Tôi đã dùng huệ nhãn quán sát thấy bà nhiều kiếp về trước tánh tình tham lam keo kiệt, nên kiếp này bà phải chịu quả báo cơ cực nghèo cùn. Vì vậy muốn hết nghèo cùng bà phải dứt lòng tham lam, còn phải thật hành phương pháp bố thí. Nhân nào thì quả nấy, chắc chắn không sai.

– Ðất ơi! Ngài bảo tôi bố thí, bố thí để dứt lòng tham, nhưng tôi có tham hồi nào đâu? Tại tôi nghèo cùng đến nỗi giơ xương, lòi da như thế này, tôi phải đào đâu ra của để mà bố thí. Thưa Ngài, Ngài bảo cách nào dù thiên lao vạn khổ gì, già này cũng có thể cố gắng làm được, chớ còn điều này thì xin chịu. Tôi không biết làm cách nào để làm cho được vừa lòng Ngài. Đây hiện giờ trong tay chỉ có cái bình này của chủ thôi, tôi mang đi để múc nước về, nếu có thể bố thí được thì tôi xin bố thí ngay, bất quá về nhà chủ đánh chút thôi, không đến nổi gì, quen rồi chả sợ. Miễn giờ đây có thể làm đủ theo ý muốn của Ngài là tôi vui lắm rồi.

– Ấy chết! Của chủ bà đem cho đi, về nhà mất bình chủ bà đánh chửi chịu sao nổi?

– Không sao, thưa Ngài! Già đã chịu đựng quen rồi, không đến nổi gì, mà già cũng nghĩ liều mạng bất quá chết là cùng.

– Cũng được, miễn có lòng thành kính là được, không luận ít nhiều. Bà hãy đem bình tìm chỗ nước thật trong và thật sạch múc đầy bình đem về đây cho tôi.

Tôn giả Ca Chiên Diên tiếp nhận bình nước sạch do tự tay bà lão múc đem về dâng. Ngài chú nguyện cho bà, lại dạy bà lão nên ăn chay, niệm Phật, làm các công đức…đoạn Ngài hỏi:

– Bà có chỗ ở nào thật sạch sẽ không?

– Tội nghiệp quá nhưng bà về nên cố gắng giữ lòng, lo trọn bổn phận, không nên hiềm hận điều gì cả. Tối đến, đợi khi trong nhà ngủ hết, bà hãy lén mở cửa lên nhà trên, vào trong ngồi xếp bằng ngay ngắn niệm Phật, tâm đừng nghĩ gì khác chỉ nên nhất tâm tưởng Phật mà thôi. Bà nên nhớ thế.

Bọn đầy tớ nhà ông Trưởng giả rạng ngày mở cửa, cả sợ, tri hô lên. Ông Trưởng giả hốt hoảng ba chân bốn cẳng vừa chạy vừa quát:

– Mẹ tớ này sao hôm nay lại trốn lên được đây ngồi chết? Từ trước đến giờ không bao giờ mụ được lên đây cả, thế sao hôm nay… Bây đâu, hãy đến gần rờ xem bà ta chết đã lâu chưa? Nếu thiệt chết, bây cột chân kéo xác bỏ vào rừng cho quạ kên ăn quách đi là xong chuyện. Mau lên! Không tao đập chết cả lũ bay nữa bây giờ. Mau lên, mau lên.

Bọn đầy tớ lúi húi tìm dây cột chân làm theo lời ông chủ, nhưng ra khỏi ngõ chúng lại lôi tấm bố đã giấu được đem ra đắp điệm cho bà, xong rồi chúng ráp nhau khiêng xác đem bỏ trong rừng lạnh. Có ai ngờ đâu, lúc bấy giờ bà lão tuy tồi tàn thế, nhưng thần thức của bà đã được sanh lên cõi trời Ðao Lợi, do nhờ sự chú nguyện của Tôn giả Ca Chiên Diên và nhờ sự cố gắng niệm Phật của bà.

Bấy giờ ở trên cõi Ðao Lợi có một vị Thiên tử vì hết phước báo nên phải hoàn sanh nhân gian, bà lão nhờ sức trì giới, niệm Phật và công đức bố thí mà được thế vào địa vị ấy. Nhưng vì ham vui chơi theo khoái lạc của thiên báo mà quên nguyên do gì mình được sanh làm Thiên tử. Song vị Thiên tử này (bà lão bộc) trước đã gây phước lành, kết duyên Phật pháp, nên cảm đến lòng từ của Tôn giả Xá Lợi Phất, Ngài bèn đến lân la dọ hỏi để kích thích đạo tâm sẵn có của vị Thiên tử.

– Phàm việc gì có ra đều có nguyên nhân cả, hẳn Ngài đã biết mình từ đâu đến và do nhân duyên gì mà được cảm quả báo làm Thiên tử như hôm nay chứ?

Vị Thiên tử cùng các quyến thuộc còn đang ngơ ngác chưa hiểu ra làm sao cả, thì Ngài Xá Lợi Phất liền truyền đạo nhãn cho vị Thiên tử xem. Như chiêm bao chợt tỉnh, vị Thiên tử rối rít tỏ lời cảm tạ ơn Ngài Xá Lợi Phất đã khai thị cho, đồng thời họp cả năm trăm quyến thuộc lễ Ngài, rồi cùng nhau mang hương hoa sang ngay hàn lâm, xông hương, rải hoa cúng dường tử thi.

Ánh sáng của Chư Thiên chiếu khắp cả khu rừng có tử thi của bà lão bộc làm cho mọi người hết sức kinh dị, nhà ông Trưởng giả cũng hay, cùng kéo nhau đến xem. Lấy làm lạ, có người đến gần hỏi:

– Ðây là người tớ già của nhà chúng tôi vừa chết, thân thể đã sình trương dơ nhớp, khi bà còn sống người ta còn ghê tởm ít dám đến gần thay, phương chi nay bả đã chết rồi có gì quý lạ mà quý vị đến đây rải hoa cúng dường?

Nghe hỏi vị Thiên tử bèn ứng tiếp đáp lời thuật rõ ngọn ngành, vì nhân duyên gì mình được bỏ thân tôi tớ, sanh làm trời hưởng phước báo vô lượng. Ðoạn vị Thiên tử xây mặt về phía tịnh xá tưởng nghĩ đến Tôn giả Ca Chiên Diên, rồi vì Chư Thiên quyến thuộc của mình và một số người trần có mặt hôm đó giảng pháp mầu đã lãnh thọ được cho nghe, nào là Luận về pháp bố thí, giữ giới, niệm Phật, lìa dục…

Nghe xong, năm trăm vị trời ấy tâm được xa lìa trần cấu, chứng nhãn thanh tịnh, đồng bay về thiên cung. Bấy giờ những người trần có mặt tại đó thảy đều tỉnh ngộ, ông Trưởng giả bấy giờ mới sáng mắt và mới nhận được cái giá trị của con người không phải ở vật chất mà chính ở tinh thần vậy. Thế là bà lão đã bán được cái nghèo với một giá cao hết sức tưởng tượng, làm thân trời.

SUY NGẪM

Tôn giả Ca Chiên Diên tiếp nhận bình nước sạch do tự tay bà lão múc đem về dâng. Ngài chú nguyện cho bà, lại dạy bà lão nên ăn chay, niệm Phật, làm các công đức…dạy cách bán cái nghèo, xa rời hiềm hận …

Thông Bạch

Thông bạch - Truyền Hình An Viên

Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên,Truyền Hình An Viên,Truyền Hình An Viên,

Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên,

Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên,Truyền Hình An Viên,Truyền Hình An Viên,

Thông bạch - Truyền Hình An Viên

Thư Đưc Pháp Chủ

Thu của Pháp Chủ - Truyền Hình An viên

giáo hội phật giáo (truyền hình an viên)

Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên,Truyền Hình An Viên,Truyền Hình An Viên,

Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên,

Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên, Truyền Hình An Viên,Truyền Hình An Viên,Truyền Hình An Viên,

Chùa Labrang – cội nguồn của Tây Tạng huyền bí

Truyền Hình AVG

Truyền Hình AVG

(Truyền Hình AVG)  Trong hơn ba thế kỷ tồn tại và phát triển, chùa Labrang – huyện Hạ Hà, châu tự trị dân tộc Tạng Cam Nam tỉnh Cam Túc (Trung Quốc) đã ôm trọn lịch sử huyền bí của giới Phật giáo Tây Tạng. Nhiều điều cho đến tận bây giờ vẫn là uẩn khúc đối với các nhà khoa học nghiên cứu về nền Phật giáo Tây Tạng.

Học 40 năm để tham dự một kỳ thi duy nhất trong đời

Số Hóa Truyền Hình AVG

Ảnh chụp từ clip: Các nhà sư đang “cọ sát” vào nhau để tăng sự giao thoa kiến thức

Nằm bên cạnh sông Đại Hạ, một nhánh của sông Hoàng Hà, từ hơn 300 năm nay, chùa Labrang luôn vang lên những tiếng tụng kinh không ngớt hòa lẫn bên tiếng nước chảy miên man. Nơi đây được coi là trường đại học Phật giáo đầu tiên của Tây Tạng. Tuy nhiên, khác với các trường đại học Phật giáo khác trên thế giới, quá trình khổ học của các sư tăng chùa Labrang kéo dài đến 40 năm. Sau khi kết thúc gần nửa cuộc đời nghiên cứu kinh luận, các sư tăng sẽ phải trải qua một kỳ thi duy nhất và quan trọng nhất. Đó chính là kỳ thi Thorampa để lấy học vị Gheso trong Phật giáo Tây Tạng. Học vị này tương đương với học vị tiến sĩ ngày nay. Kỳ thi Thorampa được giới Phật giáo Tây Tạng đánh giá là kỳ thi nghiêm ngặt nhất.

Để có  kiến thức dự thi, các sư tăng phải mất ít nhất 15 năm học những tri thức Phật học nền tảng trong Ngũ bộ đại luận (5 bộ kinh hiển tông của Phật giáo Tây Tạng). Sau đó họ phải mất 20 năm để thấm nhuần những kiến thức đó qua hàng trăm bộ kinh phân tích và dẫn giải do các sư tăng Phật sống tại đây truyền lại. Không những thế, họ còn phải liên tục các cuộc kiểm tra sát hạch để áp dụng những kiến thức mình thu lượm được vào thực tế.

Hình thức của các cuộc kiểm tra sát hạch (biện kinh) cũng rất lạ. Các sư tăng được “thẩm vấn” sẽ bị các sư tăng khác vây quanh. Họ liên tục “cọ sát” vào nhau, vào các sư tăng được “thẩm vấn” và đặt ra những câu hỏi bắt buộc các sư tăng được lựa chọn phải vận dụng tri thức mình để biện luận lô-gic. Cảnh biện kinh xem ra khá ồn ào và phức tạp, nhưng lại thực sự đơn giản, các tăng nhân coi việc xô đẩy, va chạm nhau như để tư duy được chạm vào nhau, làm tăng khả năng ghi nhớ kiến thức trong kho kinh sách khổng lồ, đồng thời cũng là lĩnh hội sự tinh túy của Phật pháp thượng thừa.

Chùa Labrang – nơi ẩn chứa bí ẩn của Phật sống Tây Tạng

Trải qua hơn 3 thế kỷ, chùa Labrang đã chứng kiến những thăng trầm của Phật giáo Tây Tạng cũng như nhiều đời Phật sống truyền thế. Tập tục Phật sống truyền thế được đưa ra dựa trên giáo lý “Tọa hóa độ sinh” (đức Phật tái thế) của Đức Phật Thích Ca. Theo giáo lý này thì khi Đức Phật (tức người đứng đầu giáo phái) viên tịch (qua đời) sẽ đầu thai vào một đứa trẻ khác (gọi là linh đồng).

Những đặc điểm nhận dạng vị “linh đồng” đó được các cao tăng nhận lại từ lời trăn trối trước khi viên tịch của vị Phật sống trước đó hoặc dựa trên những lời báo mộng của vị thần Hộ pháp có tên Lạp Mục Xuy Trung về phương hướng và địa danh mà “linh đồng” sinh ra. Tuy nhiên không phải các “linh đồng” được tìm thấy đều trở thành các Phật sống truyền thế, mà còn phải trải qua sự sàng lọc hết sức cẩn thận của các vị cao tăng. Mặc dù các cuộc “phỏng vấn” lựa chọn các “linh đồng” được làm rất chặt chẽ, hệ thống và tuân thủ nghiêm nghặt những quy tắc từ đời xưa để lại, nhưng việc thực thi và kết quả đưa ra vẫn mang phần cảm tính và huyền bí.

Tại sao các cao tăng Tây Tạng lại có thể tìm được các “linh đồng”, quá trình “sàng lọc” vị chân Phật sống ra làm sao, hiện tại vẫn là vấn đề mà nhiều học giả, những nhà khoa học hàng đầu đang nghiên cứu và chưa có lời giải. Và như thế, từ hàng trăm năm nay, những bí ẩn truyền kiếp của nền văn minh Phật Giáo Tây Tạng vẫn chìm trong tiếng nước chảy của sông Đại Hạ và tiếng tụng kinh trùng điệp chùa Labrang.

“Những bí ẩn của nền Phật giáo Tây Tạng truyền tại chùa Labrang là một trong những phần của bộ phim tài tiệu “Con đường tỉnh thức” của đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc, đang được chiếu trên kênh An Viên của AVG  Truyền hình An Viên vào lúc 20h 45 phút hàng ngày. “